← Tất cả bài viếtBình gốm sứ gốm Chu Đậu xuất khẩu hoa lam kiệt tác nghệ thuật chế tác gốm Đại Việt thế kỷ XV

Bí Ẩn Gốm Sứ Xuất Khẩu Chu Đậu: Từ Con Tàu Đắm Cù Lao Chàm Đến Tuyệt Kỹ Men Lam Tam Thái Và Con Đường Tơ Lụa Hàng Hải Thế Kỷ XV–XVI

Hành Trình Tái Khám Phá Dòng Gốm Xuất Khẩu Đại Việt Khỏi Lớp Bụi Thời Gian

Vào những năm 1980, một bức thư gửi từ Tokyo về Việt Nam của nhà ngoại giao Makoto Anabuki đã làm rúng động giới nghiên cứu cổ vật. Bức thư đề cập đến chiếc bình gốm hoa lam quý giá lưu giữ tại Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) có ghi dòng chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách phủ, hoa công Bùi Thị Hấu bút" (Năm Thái Hòa thứ 8 - 1450, tại phủ Nam Sách, người thợ gốm họ Bùi tên Hấu vẽ). Câu chuyện ấy đã mở ra hành trình khai quật khảo cổ hoành tráng tại làng Chu Đậu (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) và đại dương sâu thẫm vùng biển Cù Lao Chàm (Quảng Nam).

Đỉnh cao của sự kiện này là đợt khai quật con tàu đắm Cù Lao Chàm kéo dài từ năm 1997 đến 2000. Dưới độ sâu hơn 70 mét nước biển, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước đã trục vớt được hơn 240.000 hiện vật gốm sứ Chu Đậu còn nguyên vẹn. Đây là minh chứng hùng hình nhất cho thấy vào thế kỷ XV - XVI, gốm Chu Đậu xuất khẩu đã vượt qua các đại dương, trở thành mặt hàng xa xỉ phẩm được giới quý tộc từ Đông Nam Á, Trung Đông cho đến Châu Âu khao khát sở hữu.

Chi tiết tác phẩm tranh tĩnh vật miêu tả gốm sứ xuất khẩu phương Đông trên bàn tiệc phương Tây thế kỷ XVII tượng trưng cho vị thế của gốm Chu Đậu xuất khẩuChú thích ảnh: Sự hiện diện của gốm sứ phương Đông trên các bàn tiệc quý tộc Châu Âu thế kỷ XVI-XVII phản ánh thời kỳ hoàng kim của con đường tơ lụa hàng hải (Nguồn: Wikimedia Commons)

Từ Lò Nung Ven Sông Thái Bình Đến Những Thương Cảng Quốc Tế

Nằm bên bờ sông Thái Bình, Chu Đậu có vị trí giao thông thủy vô cùng thuận lợi. Đất sét trắng ở vùng Nam Sách mịn màng, giàu silicat và alumina, tạo nên nguồn nguyên liệu lý tưởng cho việc chế tác gốm cao cấp. Nguồn củi nung dồi dào từ vùng rừng núi phía Bắc theo đường sông đổ về giúp các lò bầu tại Chu Đậu luôn đỏ lửa quanh năm.

Sản phẩm gốm sau khi hoàn thiện được chất lên các thuyền buồm cỡ nhỏ, theo sông Thái Bình đổ ra biển tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) hoặc Phố Hiến (Hưng Yên), từ đó hòa vào các hạm đội thương thuyền quốc tế của người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ả Rập và Trung Hoa để đi khắp thế giới.

Tuyệt Kỹ Chế Tác Men Lam, Men Ngà Và Kỹ Thuật Vẽ Trên Men Tam Thái

Điều làm nên sức hấp dẫn khó cưỡng của gốm Chu Đậu xuất khẩu chính là sự kết hợp tài tình giữa cốt đất, chất men và kỹ thuật trang trí đa dạng. Khác với gốm sứ Cảnh Đức Trấn (Trung Quốc) thiên về sắc sứ trắng tinh và đường nét tinh xảo cứng cẩn, gốm Chu Đậu mang nét mềm mại, tự nhiên và tràn đầy hơi thở sông nước Đại Việt.

Công Thức Men Tro Trấu Và Sắc Men Ngà Đặc Trưng

Chất men của gốm Chu Đậu được chế tạo từ tro trấu (tro vỏ trấu nung) kết hợp với đất sét mịn ngâm lọc kỹ và vôi bột. Kỹ thuật pha chế men tro tự nhiên này tạo nên màu men ngà rạn hạt ngô đặc trưng, hoặc màu men vàng chanh, men lục rất riêng biệt. Khi nung ở nhiệt độ khoảng 1.200°C đến 1.250°C trong lò bầu, men chảy đều, có độ trong và tạo ra hiệu ứng rạn tự nhiên rải rác trên bề mặt hiện vật.

"Gốm Chu Đậu không dùng hóa chất để tạo độ bóng giả tạo. Sắc men ngà trong trẻo của trấu nung kết hợp với nét mực cobalt ẩn hiện dưới lớp men làm cho mỗi sản phẩm có hồn cốt riêng, bền bỉ qua hàng trăm năm ngâm mình dưới đáy biển mà không hề bị ăn mòn."

Bí Kỹ Men Lam Cobalt Và Nghệ Thuật Phối Màu Tam Thái

Thợ gốm Chu Đậu sử dụng khoáng chất Cobalt Blue (chất lam) nhập khẩu từ vùng Trung Đông qua các thương nhân hàng hải để vẽ phác thảo trực tiếp lên cốt xương gốm mộc (vẽ dưới men - underglaze). Nét vẽ bằng cọ lông cầm tay vừa phóng khoáng, vừa uyển chuyển, phản ánh tâm hồn tự do của người nghệ nhân Việt.

Đặc biệt nhất là dòng gốm Tam Thái (Overglaze polychrome). Sau khi gốm được tráng men ngà và nung lần đầu ở nhiệt độ cao, nghệ nhân sẽ dùng các màu khoảng khoáng chất như đỏ son (iron oxide), xanh lục (copper oxide) và vàng để vẽ thêm các chi tiết cầu kỳ lên trên bề mặt men, rồi đem nung lại lần hai ở nhiệt độ khoảng 700°C - 800°C. Kỹ thuật vẽ trên men này đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối vì màu nung nhẹ rất dễ bị bong tróc nếu nhiệt độ không chuẩn.

Đĩa gốm sứ cổ hoa lam với ô văn trang trí xung quanh viền ảnh hưởng từ dòng gốm xuất khẩu Đông Nam Á và Trung ĐôngChú thích ảnh: Đĩa gốm cổ hoa lam xuất khẩu với các ô văn chia khoang tỉ mỉ - đặc trưng của dòng gốm xuất khẩu thế kỷ XV-XVI (Nguồn: Wikimedia Commons)

Hệ Thống Hoa Văn Và Triết Lý Thẩm Mỹ Mang Bản Sắc Đại Việt

Mặc dù chế tác phục vụ thị trường xuất khẩu với nhiều đơn đặt hàng theo gu thẩm Mỹ của thương nhân nước ngoài, gốm Chu Đậu vẫn giữ trọn vẹn tinh thần văn hóa bản địa. Hệ thống hoa văn trên gốm Chu Đậu là một tập hợp phong phú các hình ảnh thiên nhiên, động vật và sinh hoạt đời thường.

  • Hoa văn chim nhạn, chích chòe, thiên nga: Hình ảnh loài chim nước tung cánh hoặc đậu trên cành hoa mạn đà la thể hiện ước mơ tự do và bình yên của cư dân lúa nước.
  • Họa tiết cá chép hoa sen: Biểu tượng cho sự thăng tiến, may mắn và tinh thần thuần khiết của Phật giáo Đại Việt.
  • Cánh lotus (cánh sen) biến điệu: Thường được thể hiện ở chân bình, chân đĩa dưới dạng các ô lá lật hình thoi độc đáo, vừa tạo điểm tựa thị giác vững chắc vừa mang ý nghĩa tâm linh.
  • Dáng bình Tỳ Bà và Bình Tỏi: Dáng bình Tỳ Bà (thắt cổ, nở bụng, tượng trưng cho âm - đất) và bình Tỏi (tượng trưng cho dương - trời) là những kiệt tác tạo hình chuẩn mực của Chu Đậu.
Yếu Tố Kỹ ThuậtGốm Chu Đậu Xuất Khẩu (Đại Việt)Gốm Sứ Cảnh Đức Trấn (Trung Hoa)Cốt xương gốmĐất sét trắng mịn sông Thái Bình, cốt dầy, cảm giác đằm tay.Đất cao nguyên Kaolin tinh xảo, cốt mỏng, trắng đục hoặc thấu quang.Lớp men phủMen tro trấu ngà rạn tự nhiên, màu men trầm ấm, mềm mại.Men sứ trắn bóng ngọc, độ phản quang cao, bề mặt láng mịn.Bút pháp vẽPhóng khoáng, tự nhiên, đậm tính dân gian và tự do nghệ sĩ.Cầu kỳ, tỉ mỉ, tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn mỹ thuật cung đình.Đáy hiện vậtThường quét một lớp sơn nâu (chất gỉ sắt - Chocolate bottom).Đáy để mộc hoặc tráng men trắng có hiệu quẻ niên hiệu hoàng đế.

Vị Thế Của Gốm Chu Đậu Trên Con Đường Tơ Lụa Hàng Hải Thế Kỷ XV–XVI

Vào thế kỷ XV, nhà Minh (Trung Quốc) thực thi chính sách "Hải禁" (bế quan tỏa cảng, cấm tư nhân buôn bán trên biển). Khoảng trống thị trường khổng lồ này đã tạo thời cơ vàng cho các lò gốm Đại Việt, đặc biệt là Chu Đậu, bứt phá vươn ra thế giới.

Các thương thuyền buôn bán của Ả Rập, Nhật Bản và các nước Tây Âu đã chọn Việt Nam làm điểm dừng chân thu mua gốm sứ. Những phát hiện tại bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ), bảo tàng Guimet (Pháp), các di tích thành quách tại Nhật Bản (dòng gốm Annam yaki), và các tàu đắm tại Pandanan (Philippines), Lena Shoal (Indonesia) đã chứng minh phạm vi thương mại toàn cầu của gốm Chu Đậu.

Bình gốm cổ hoa lam dáng cao với nét vẽ dung dị mềm mại thể hiện kỹ thuật gốm Chu Đậu xuất khẩuChú thích ảnh: Hiện vật gốm cổ hoa lam lưu giữ tại bảo tàng quốc tế minh chứng cho độ phủ sóng của gốm Việt trong thế kỷ XV-XVI (Nguồn: Wikimedia Commons)

Bí Ẩn Sự Biến Mất Và Hành Trình Hồi Sinh Di Sản

Mặc dù phát triển rực rỡ suốt hơn 200 năm, đến cuối thế kỷ XVII, các trung tâm sản xuất gốm tại Chu Đậu - Nam Sách bất ngờ ngừng hoạt động và chìm vào quên lấp. Có hai nguyên nhân chính được các nhà lịch sử đưa ra:

  1. Cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc: Vùng Nam Sách (Hải Dương) là bãi chiến trường khốc liệt giữa quân đội nhà Trịnh và nhà Mạc. Các lò nung bị tàn phá, nghệ nhân gốm phải ly tán khắp nơi (một số di cư về Bát Tràng, Mụn Bát hoặc đi vào phía Nam).
  2. Sự mở cửa trở lại của Trung Quốc: Khi nhà Thanh bãi bỏ lệnh cấm biển, gốm sứ Cảnh Đức Trấn với quy mô sản xuất công nghiệp và giá thành rẻ đã tràn ngập thị trường, đè bẹp các dòng gốm thủ công của Đại Việt.

Ngày nay, nhờ sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu, nghệ nhân và các tập đoàn di sản, làng gốm Chu Đậu đã được hồi sinh ngay trên mảnh đất quê hương. Những công thức men tro trấu cổ, bút pháp vẽ hoa lam tam thái và dáng bình Tỳ Bà thần thái năm xưa đang được khôi phục, đưa gốm Chu Đậu xuất khẩu trở lại vị thế đỉnh cao trên bản đồ mỹ nghệ quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Gốm Chu Đậu xuất khẩu đạt đến đỉnh cao vào thời gian nào?

Gốm Chu Đậu xuất khẩu phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XV - XVI dưới thời nhà Lê Sơ và Lê Trung Hưng. Đây là giai đoạn nhà Minh (Trung Quốc) thực thi chính sách cấm biển, tạo điều kiện cho gốm Đại Việt vươn ra chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

Vì sao cuộc khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm lại quan trọng với gốm Chu Đậu?

Cuộc khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm (1997-2000) đã trục vớt hơn 240.000 hiện vật gốm Chu Đậu còn nguyên vẹn. Đây là bằng chứng khảo cổ học lớn nhất khẳng định vị thế sản xuất và quy mô xuất khẩu toàn cầu của dòng gốm Chu Đậu trong lịch sử thương mại hàng hải.

Đặc điểm nhận diện nổi bật nhất của gốm Chu Đậu cổ là gì?

Gốm Chu Đậu cổ nổi tiếng với lớp men tro trấu màu ngà rạn tự nhiên, bút pháp vẽ lam cobalt mềm mại phóng khoáng, nét vẽ trên men tam thái (đỏ, xanh, vàng) và phần đáy hiện vật thường được thoa một lớp sơn màu nâu sẫm (gọi là Chocolate bottom).

Kỹ thuật vẽ Tam Thái trên gốm Chu Đậu được thực hiện như thế nào?

Kỹ thuật Tam Thái là phương pháp vẽ trên men (overglaze). Sản phẩm sau khi tráng men ngà và nung ở 1.200°C sẽ được nghệ nhân dùng màu khoáng nung nhẹ (đỏ, vàng, xanh) vẽ thêm chi tiết, sau đó đem nung lại lần hai ở nhiệt độ 700°C - 800°C.

Tại sao dòng gốm Chu Đậu từng bị thất truyền vào thế kỷ XVII?

Dòng gốm Chu Đậu lụi tàn do tàn phá của cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc làm nghệ nhân ly tán, kết hợp với việc nhà Thanh (Trung Quốc) mở cửa biển trở lại khiến gốm Cảnh Đức Trấn chiếm lĩnh lại các tuyến thương mại hàng hải.